Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

danh sách các cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước thời Nam - Bắc triều. P.2

NHÀ HỒ ( 1400 - 1407)

Trích:
- 1400 - 1401: tháng 12, đem 15 vạn quân đánh Champa, hết lương phải nướng giáp mà ăn, rút về.
- 1402: tháng 7, đánh Champa. Chiếm Chiêm Động, Cổ Lũy
- 1403: đánh Champa, vây Chà Bàn 9 tháng trời ko được, phải rút.
- 1404: Hồ Tùng âm mưu cùng người Cham Chế Sơn Nô, định cùng Champa làm phản. bị giết.
- 1406:
+ tháng 4, nhà Minh đưa Trần Thiêm Bình sang
+ ( tháng 9/1406 – 5/5/1407), Trương Phụ đánh sang, diệt Đại Ngu.
= > 6 lần trong 7 năm



THUỘC MINH ( 1407 - 1427)
- nhà Hậu Trần ( 1407 – 1413):
 màu xanh dương là lấy từ cuốn " Khởi nghĩa Lam Sơn ( 1418 - 1427)" của Phan Huy Lê.
Trích:
- 1407:
+ ( ? - tháng 9): dân huyện Đông Lan, Trà Thanh thuộc phủ Diễn châu ( huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) nổi dậy đốt nhà ngục, giết quan lại. Trần Húc, Trương Phụ đàn áp.

+ tháng 7: Trương Phụ cho là Nguyễn Đại có công trong việc bắt hai cha con họ Hồ, trao cho chức Giao Chỉ đô chỉ huy sứ. Đại kiêu căng ra mặt, lại ngầm có chí làm phản. Phụ bèn giết đi.

+ Bấy giờ [9a] viên thổ hào ở Đông Triều là Phạm Chấn lập Trần Nguyệt Hồ làm vua ở Bình Than, đề cờ chiêu an gọi là Trung nghĩa quân, cho nên người Minh ngờ Bá Kỳ. Sau Trần Nguyệt Hồ bị người Minh bắt, Phạm Chấn bỏ trốn. đến tháng 12 nhập vào quân Hậu Trần.

+ ( ? - tháng 9): dân thiểu số châu Quảng Nguyên ( Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng), Thất Nguyên ( Thất Khê, tỉnh Cao lạng) nổi dậy, lực lượng không đông nhưng biết dựa vào địa thế hiểm trở. Tháng 9, đô đốc Cao Sĩ Văn đi đàn áp, bị giết tại trận. Quân nổi dậy rút sang Thất Khê, rồi bị đô đốc Trình Dương đem viện quân tiêu diệt.

+ Phạm Tất Đại cùng Nguyễn Nguyên Thể, Nguyễn Phục Cổ, Nguyễn Nhạc Phi, Nguyễn Năng, Nguyễn Biểu, Phạm Đa Bổ, Nguyễn Nghiêu Bộc, Nguyễn Tiễn, Trần Hãn Phu nổi dậy ở các hang động miền Lục Na. Nhà Minh sai lùng bắt các thủ lĩnh giải sang TQ.

+ nội quan Miêu Thanh tâu dân chúng không phục, họp nhau làm loạn tại:
* phủ Tân An ( Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh)
* phủ Kiến Bình ( Nam Định, Ninh Bình)
* phủ Lạng Giang ( Bắc Giang, nam Lạng Sơn)
* châu Đông Hồ ( có lẽ là Đông Triều, Quảng Ninh + đông bắc Hải Dương + tây bắc Hải Phòng)
* châu Thái Nguyên ( Thái Nguyên, Bắc Cạn)
* sông Sinh Quyết ( đoạn sông Đáy chảy qua Nam Định)


- 1408:

+ Trần Nguyễn Khôi khởi nghĩa ở huyện Nguyên Lang châu Tam Đái ( Vĩnh Phúc và một phần Phú Thọ)

+ Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bí nổi dậy ở châu Thái Nguyên ( Thái Nguyên, Bắc Cạn)


- 1409:

+ tháng 7: nghĩa quân Hoàng Cự Liêm đóng ở châu Từ Liêm ( Đan Phượng, Thạch Thất, tỉnh Hà Tây), châu Quảng Oai ( Tùng Thiện, Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây + đông bắc tỉnh Hòa Bình) bị Trương Phụ tấn công. Liêm phải bỏ trốn.

+ Thiêm Hữu, Ông Nguyên khởi nghĩa ở phủ Lạng Giang

+ ( 1409 - 1410): Nguyễn Sư Cối nổi dậy ở xã Nghi Dương, huyện An Lão, châu Đông Triều ( Kiến Thụy, Hải Phòng), thường hoạt động ở sông Hoàng Giang, Ma Lao ( sông Thái Bình chảy qua miền nam tỉnh Hải Dương, Hải Phòng), Đại Toàn. Quân đến 2 vạn, bị Phụ đánh giết 4500, bắt 2000 người, có các tướng Phạm Chi, Trần Nguyên Khanh, Trần Nhân Trụ rồi giết hết.

+ Nổi dậy ở Thanh Oai ( Hà Tây), Phụng Hóa ( đông bắc Nam Định), Trấn Man ( bắc Thái Bình). Nghĩa quân đánh bại thổ quan Lộ Văn Luật, giết 300 quân.



- 5/ 1410:

+ Người Thanh Hóa là Đồng Mặc, tên hiệu là Lỗ Lược tướng quân, đánh giết bọn giặc nhiều không kể xiết. Chỉ huy của quân Minh là Tả [15b] Địch bị bắt, Vương Tuyên (có sách ghi là Vương Đản) thế cùng phải tự vẫn. Hưng Khánh Đế cho Mặc làm Phủ quản quận Thanh Hóa.

+ Nguyễn Ngân Hà tuy không bằng Mặc, nhưng cũng là ngườitrội trong đám hào kiệt.

+ Lê Nhị ở Thanh Oai, Từ Liêm giết cha con tên đô ty Lư Vượng ở cầu Ngọc Tản, lại chiếm giữ huyện Từ Liêm, quân Minh rất sợ hãi.

+ Lê Khang ở Thanh Đàm1 ( Thanh Trì, Hà Nội)

+ Đỗ Cối, Nguyễn Hiên nổi dậy ở châu Trường Yên ( đông bắc Ninh Bình) cũng họp quân chống giặc.

= > vì hiệu lệnh không thống nhất, quân đội không có chỉ huy chung, nên sau đều tan vỡ cả

+ ( ? - tháng 8) phủ Trấn Man ( bắc Thái Bình) khởi nghĩa. Đồng tri phủ Trấn Man là Nguyễn Hy Cấp đàn áp.

+ ( ? - tháng 11) Phạm Tuân nổi lên ở huyện Đông Kết ( Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Tháng 11, Tuân bị bắt nhưng khởi nghĩa vẫn tiếp tục.


+ Hoàng Thiêm Hữu nổi dậy ở châu Hạ Văn ( huyện Thoát Lãng, Lạng Sơn)

+ Nguyễn Nguyên Hách nổi dậy ở huyện Thoát ( huyện Thoát Lãng, Lạng Sơn)

+ ( ? - tháng 3/ 1412) Ông Lão nổi dậy ở huyện Động Hỷ ( Thái Nguyên). Thổ quan Ma Bá Hổ đàn áp, đánh bại nghĩa quân vào tháng 6/1410, nhưng Ông Lão trốn thoát và khởi nghĩa vẫn tiếp tục diễn ra.

+ Các lãnh tụ khởi nghĩa khác ở Thái Nguyên:
* Chu Sử Nhan
* Bùi Quý Thăng
* Nguyễn Khắc Chẩn
* Nguyễn Trà
* Dương Khắc Chung
+ Dương Thế Chân
...


- 1411:

+ Lê Nhị, Phạm Khảng hoạt động ở Thạch Thất ( Hà Tây), Phúc An ( Thường Tín, Hà Tây), tiến công ngoại vi thành Đông Quan. Nghĩa quân từng phá cầu phao sông Nhuệ, ngăn trở đi lại trên sông Sinh Quyết ( sông Đáy), làm cản trở giao thông tại hậu vệ Giao Châu.

- 1412:

+ tháng 1, viên phụ đạo ở Đại Từ, Thái Nguyên là Nguyễn Nhuế ( hoặc Nguyễn Nhũ) khởi binh, hoại động ở vùng núi tam Đảo, bị Trương Phụ nhà Minh bắt.

+ tháng 6: Trương Phụ đàn áp khởi nghĩa vùng núi Hoàng ( huyện Nông Cống), bay vây dãy núi, tấn công các hang động, nửa chừng thì rút về đánh Nguyễn Súy

+ Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn tụ tập quân lính chiếm giữ đất ấy, chẹn lấp đường đi lại của người Minh, giết bắt vô số. Tham chính Mạc Thúy từng đem quân tiến sâu vào đất ấy, bị trúng tên thuốc độc mà chết. Sau vì Văn Lịch thông dâm với vợ của cấp dưới, binh sĩ tức giận giết chết.

+ Nguyễn Liễu ở Lý Nhân1 ( Lý Nhân, Hà Nam) chiêu tập người các huyện Lục Na2 ( Lục Ngạn, Hà Bắc) , Vũ Lễ đánh cướp người Minh trong mấy năm. Vua ở Nghệ An, đường bị ngăn trở không thông, quân của Liễu bị tan vỡ dần, Tham nghị Nguyễn huân vờ kết thông [21b] gia rồi dụ [Liễu] đến giết chết.

+ tháng 8: Lưu Bổng hoạt động ở Quảng Oai ( nam Hà Tây và đông bắc Hòa Bình)
= > 9 vụ trong 6 năm, TB 0,6 năm/ vụ. Không tính khởi nghĩa nhà hậu Trần

GIỮA HẬU TRẦN VÀ LAM SƠN:


- 1414:

+ Trần Quý Tảm ( em Trần Quý Khoáng), tự xưng Tướng quốc Hoan quốc vương, nổi lên ở Tĩnh An ( Quảng Ninh), sau bị bắt ở cửa biển Đa Ngư ( cửa Vạn Úc).

+ ( 1414 - đầu 1415): khởi nghĩa Nguyễn Tống Biệt ở Hạ Hồng
+ ( 1414 - đầu 1415): khởi nghĩa Hoàng Thiêm Hữu ở Giao Châu


- 1415:

+ ( 1415 - tháng 11/ 1415): khởi nghĩa Trần Nguyệt Hồ ở Thanh Hóa, xưng là Nguyệt Hồ Vương, hoạt động ở lưu vực sông Mã. Sau Trương Phụ bắt Hồ ở Xích Thổ ( Ninh Bình)


- 1416: tháng 9, quân lính huyện Tân An nổi lên, Trương Phụ dẹp được.

- giữa - tháng 7/ 1417:

+ Lê Hạch, Phan Cường nổi dậy ở châu Thuận ( nam Quảng Trị). Khởi nghĩa được các thổ quan ủng hộ: đồng tri Trần Khả Luận, phán quan Nguyễn Chiêu, chủ bạ Phạm Mã Hõan, thiên hộ Trần Não, bách hộ Trần Ngô Sai. Sau Hạch chết trận. Cường, Luận, Chiêu, Hoãn bị bắt giết.

+ phán quan Nguyễn Nghị, tri huyện Tả Bình Trần Bá Cao, huyện thừa Vũ Vạn, bách hộ Trần Bá Luật nổi dậy ở châu Nam Linh ( bắc Quảng Trị). Sau Vạn, Cao bị bắt giết; Nghị, Luật chạy thoát.

+ ( ? - gia nhập Lam Sơn) Nguyễn Chích lập căn cứ khởi nghĩa Hoàng - Nghiêu, hoạt động khắp vùng Đông Sơn ( 2 huyện Đông Sơn, Thiệu Hóa)


LAM SƠN ( 1418 - 1427)

Trích:
- 1419:
* Nông Văn Lịch nổi dậy ở huyện Khâu Ôn ( Ôn Châu, tỉnh Lạng Sơn)
* Ngô Cự Lại nổi dậy ở huyện Thiện Tài ( Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh)
* Trần Mộc Quả nổi dậy ở châu Vũ Định

+ tháng 7, viên thổ quan Tri phủ Nghệ An là Phan Liêu vì bị bọn nội quan nhà Minh [4b] bức bách lấy vàng bạc, bèn dẫn quân bắt giết các quan do nhà Minh phái đến, rồi đem quân vây thành Nghệ An, sắp hạ được thành thì Lý Bân chợt đem quân đến. Liêu trốn lên biên giới, cầm cự ở châu Ngọc Ma, liên kết với quân " áo đỏ" và Ai Lao. Khi Lê Lợi lấy được Nghệ An, Liêu theo Lê Lợi.
+ tháng 11:
* Phạm Nhuyến chiếm cứ sách Cự Lặc huyện Nga Lạc ( Thanh Hóa). Lý Bân phái đô chỉ huy Từ Nguyệt đàn áp.

* Trịnh Công Chứng ở Hạ Hồng1 ( phía nam tỉnh Hải Hưng) có trên 1000 nghĩa quân.
* khởi nghĩa Lê Hành ở Hạ Hồng1 ( phía nam tỉnh Hải Hưng)
* Phạm Thiện ở Tân Minh2 ( Tiên Lãng, Hải Phòng),
* Nguyễn Đặc ở Khoái Châu,
* Nguyễn Đa Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang
4 người thấy thành Đông Quan chỉ còn những quân lính ốm yếu, liền dấy [5a] quân tiến đánh. Quân đến Lô Giang, đánh phá được cầu phao, nhưng ít lâu sau, bị Lý Bân đánh bại, tan tác chạy dài. Bấy giờ, chỗ nào cũng rối loạn, chỉ còn các xứ Tam Giang, Tuyên Quang, Hưng Hóa là yên tĩnh như cũ3.
+ Tháng 12:
* Trần Trực Thành - bách hộ huyện Kiệt Giang ( Nam Đàn, Nghệ An) phủ Nghệ An - cùng em là Trần Chân, tự xưng Kim Ngô tướng quân nổi dậy, liên kết với 1 bộ phận quân " áo đỏ" do tướng Lãm Bàn chỉ huy. Họ giết chết tuần kiểm địch là Trương Tú.
* Vũ Cống cùng 1 kì lão là Hoàng Nhữ Điển nổi dậy, đốt huyện đường ở huyện Phù Lưu ( Quỳnh Lưu, Nghệ An).
* thiên hộ Trần Thuận Khánh nổi dậy ở châu Nam Linh ( Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị). Lý Bân sai Việt gian Nguyễn Huân, Trần Nguyên Khôi đàn áp, giết chết vào cuối năm 1419.
* ( 1419 - đầu 1420) Đào Cường nổi dậy ở huyện Thiện Tài ( Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Địch huy động đô chỉ huy Lưu Tuấn, Vu Toản, Ngô Hưng đàn áp, nhưng bị mai phục đánh bại, đuổi đến tận sông Nhị. Quân khởi nghĩa định vượt sông đánh thành Đông Quan thì bị đô chỉ huy Trần Tuấn đánh cản vì đô chỉ huy Cảnh Vinh điều kị binh từ Đông Quan đến tăng viện đẩy lui. Cuối cùng, Lý Bân thân chinh đàn áp, bắt được Đào Cường
* ( cuối 1419 - tháng 5/1420): Trịnh Công Chứng bị bắt ở huyện Đồng Lợi, tướng là Lê Điệt tiếp tục chiến đấu ở huyện Diên Hà và Kiến Xương( Duyên Hà, Kiến Xương, tỉnh Thái Bình). Nghĩa quân có nhiều chiến thuyền hoạt động trên sông Hoàng Giang và Tiểu Hoàng Giang ( sông Châu Giang, sông Trà Lý). Đô chỉ huy Trần Trung tiến đánh, nghĩa quân rút sang huyện Tân Châu ( Nam Trực, Trựng Ninh, tỉnh Nam Định) rồi trở lại Diên Hà. Cuối cùng bị đánh bại, tất cả cùng vợ con bị bắt.


- 1420:
* Đinh Tôn Lão khởi nghĩa ở huyện Đại Hoan ( Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định)
* Nguyễn Đa, Cấn Sư Lỗ khởi nghĩa ở huyện Thạch Thất ( Hà Tây). Đa xưng là Khai Thánh Vương, bộ tham mưu có Đàm Hưng Bang làm bình chương quân quốc trọng sự, Nguyễn Gia chức tư đồ, Vi Ngũ chức thái sư.
* Phạm Công Trịch khởi nghĩa ở châu Uy Man ( nam Hà Tây + tỉnh Hòa Bình)


+ tháng 4, Lộ Văn Luật dấy binh ở Thạch Thất, Lý Bân đánh phá được. Lộ Văn Luật chạy sang Ai Lao, dân chúng thì trốn vào hang núi Phật Tích và An Sầm4 ( Thạch Thất, Hà Tây). Quân Minh dỡ nhà hun động, người trong động bị khói lửa hun đều chết, người nào ra hàng cũng bị giết cả, vợ con bị bắt làm nô tỳ. Sau, Luật theo Lê Lợi ( Toàn Thư thì chép là Luật sang Ai Lao, xúi vua Lào đánh Lê Lợi).
+ tháng 6:
* Trần Thái Xung ở Đạo Hồi,
* Phạm Ngọc ở Đồ Sơn đều tụ quân nổi dậy,
Bân đánh bại cả.
+ Người làng Tràng Kênh, huyện Thủy Đường6 là Lê Ngã đổi họ tên thành Dương Cung, tự xưng là Thiên Thượng Hoàng Đế, đăt niên hiệu là Vĩnh Thiên. Thiên Lại gởi hịch cho các huyện gần đó, tự xưng là Hưng Vận quốc thượng hầu, đem quân đánh nhau với Ngã, bị Ngã giết chết, Lý Bân đem đại quân thủy bộ dến đánh. Ngã và Thuấn đang đêm bỏ trốn cả.
+ Tả tham chính Hầu Bảo giữ đồn Hoàng Giang2 ( ngã ba Tuần Vường tỉnh Nam Hà), bị Nguyễn Thuật, người Kiến Xương3 ( Vũ Thư, Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) đánh giết.

= > 7 vụ trong 9 năm, TB 1,3 năm/ vụ. Không tính Lam Sơn

- 1 số cuộc khởi nghĩa Toàn Thư không chép, Đại cương lịch sử Vn đề cập:

+ Đỗ Côi, Nguyễn Hiện ở Trường Yên ( Ninh Bình)

- Các cuộc khởi nghĩa không rõ từ bao giờ ở Nghệ An. Tất cả sau đều gia nhập Lam Sơn:
+ Nguyễn Vĩnh Lộc nổi dậy ở châu Diễn, lập căn cứ ở thôn Trang Niên ( thôn Phong Niên, xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An)
+ Nguyễn Biên khởi nghĩa ở Động Choác ( xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh)
+ Nguyễn Tuấn Thiện ở thôn Phúc Đậu xã Phúc Dương ( xã Sơn Phúc, Hương Sơn). Khi Lam Sơn tiến vào Đỗ Gia, ông lập " đội quân Cốc Sơn" tự giải phóng quê hương rồi gia nhập Lê Lợi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét